SUZUCHO KARATE-DO RYU https://suzuchokaratedo.com

Luật Karate-do 2006
06.06.2013

Luật Karate-do 2006 gồm 2 chương 20 Điều

ỦY BAN THỂ DỤC THỂ THAO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

     Số: 1126/QĐ/UBTDTT

                Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

          

                 _______________________

 

              Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2006

 

QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM

ỦY BAN THỂ DỤC THỂ THAO 
Về việc ban hành Luật Karate - Do

 

BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM ỦY BAN THỂ DỤC THỂ THAO

   - Căn cứ Nghị định số 22/2003/NĐ-CP ngày 11/3/2003 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Ủy ban Thể dục thể thao.

   - Xét yêu cầu về phát triển và nâng cao thành tích môn Karate-Do ở Việt Nam.

   - Căn cứ vào đề nghị của ông Vụ trưởng Vụ Thể thao Thành tích cao I

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay ban hành theo quyết định này Luật Karate-do gồm 2 chương 20 Điều.

Điều 2: Luật Karate - Do được áp dụng thống nhất trong các cuộc thi đấu từ cơ sở đến toàn quốc và thi đấu quốc tế tại Việt Nam.

Điều 3: Luật này thay thế cho các Luật đã in trước đây và có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 4: Điều 5: Các ông Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ trưởng Vụ Thể thao Thành tích cao I, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Giám đốc các Sở Thể dục Thể thao, Sở Văn hoá thông tin- Thể thao các tỉnh thành phố, các đơn vị có liên quan thuộc Uỷ ban TDTT chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. 

 

 BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM 

Nguyễn Danh Thái(đã ký)

 

 

 

CHƯƠNG I:

LUẬT THI ĐẤU KUMITE

Điều 1: Thảm thi đấu Kumite

1.1. Thảm thi đấu phải bằng phẳng và không có chướng ngại.

1.2. Thảm đấu hình vuông, chiều dai mỗi cạnh là 8m (đo từ mép ngoài của vạch) và cộng thêm 2m về các phía, đó là khu vực an toàn. Thảm đấu có thể được thiết kế theo kiểu đài đấu với chiều cao là 1m tính từ sàn nhà và mỗi chiều dài mỗi cạnh ít nhất là 12m bao gồm cả khu vực thi đấu và khu vực an toàn.

1.3. Vạch qui định vị trí của Trọng tài chính (TTC) dài 0,5m, cách tâm thảm là 2m.

1.4. Hai vạch song song quy định vị trí của 2 đấu thủ, mỗi vạch dài 1m, nằm cách tâm thảm 1,5m.

1.5. Các trọng tài phụ (TTP) ngồi ở khu vực an toàn, một người ngồi đối diện với TTC, 2 người ngồi ở phía sau của mỗi đấu thủ, vị trí ngồi cách 1m hướng về TTC. Mỗi người được trang bị 1 cờ đỏ và 1 cờ xanh.

1.6. Trọng tài giám sát sẽ ngồi ở 1 bàn nhỏ ngay bên ngoài khu vực an toàn, ở phía sau bên trái của TTC. Trọng tài này sẽ được trang bị 1 cờ đỏ hay biển hiệu và còi.

1.7. Trọng tài giám sát điểm sẽ ngồi ở bàn dành riêng ở giữa Trọng tài ghi điểm và Trọng tài bấm giờ.

1.8. Đường viền bao quanh thảm rộng 1m và phải có mầu khác so với phần còn lại của thảm.

Giải thích:

1. Tuyệt đối không được có tấm ngăn, biển, cột quảng cáo...,trong vòng 1m bên ngoài khu vực an toàn của thảm đấu.

2. Thảm sử dụng ở mặt tiếp xúc với sàn đấu không được trơn với nhưng ở mặt trên của thảm phải có độ ma sát thấp. Thảm không dày như thảm Judo, vì sẽ gây cản trở cho việc di chuyển. TTC phải chắc chắn rằng các phần ghép của thảm không bị xê dịch trong quá trình thi đấu, vì các khe hở có thể gây chấn thương và cản trở vận động viên (VĐV). Mẫu thiết kế phải được Liên đoàn Karate thế giới (WKF) công nhận..

Điều 2: Trang phục chính thức

2.1. Các VĐV và HLV phải mặc đồng phục chính thức theo quy định dưới đây.

2.2. Hội đồng trọng tài (HĐTT) có thể tước quyền bất cứ thành viên hoặc VĐV nào không tuân thủ theo quy định.

2.2.1 Đối với trọng tài:

2.2.1.1. TTC và TTP phải mặc đồng phục chính thức do HĐTT qui định. Đồng phục này được mặc trong suốt cả giải và các buổi tập huấn.

2.2.1.2. Đồng phục chíng thức đựoc quy định như sau:

- Áo vét mầu xanh đậm có 2 khuy mầu bạc.

- Áo sơ mi trắng cộc tay.

- Cà vạt không được gắn kẹp cài.

- Quần âu mầu ghi sáng không gấp nếp ở gấu.

- Tất mầu xanh đen hay màu đen đi với giầy "lười" màu đen) dùng trên thảmđấu.

- TTD hoặc TTP là nữ có thể được dùng cặp tóc.

2.2.2. Đối với VĐV:

2.2.2.1. Các VĐV phải mặc võ phục mầu trắng không có kẻ sọc hoặc đường viền, chỉ có biểu tượng hoặc cờ quốc gia của VĐV nằm ở ngực trái của áo và kích thước tổng thể không vượt quá 100cm­2 mỗi chiều (100mm x 100mm). Chỉ có các nhãn mác của nhà sản xuất mới được có trên áo. Ngoài ra, số hiệu nhận biết do Ban tổ chức cung cấp phải được đeo ở mặt sau của áo. Một đấu thủ thắt đai đỏ thì đấu thủ còn lại phải thắt đai xanh. Đai đỏ và đai xanh phải có bề ngang rộng 5cm và có độ dài mỗi bên đai là 15 cm tính từ đầu đến nút thắt đai.

2.2.2.2. Bất kể phần 1 nêu trên, Ban chấp hành vẫn có thể toàn quyền cho phép đeo mác hoặc nhãn hiệu của nhà tài trợ.

2.2.2.3. Áo của VĐV khi thắt chặt đai quanh thắt lưng phải có độ dài tối thiểu đủ để che được phần hông nhưng không đựoc dài quá 3/4 đùi. Đối với VĐV nữ có thể được mặc áo phông trắng bên trong áo thi đấu.

2.2.2.4. Chiều dài tốt đa của tay áo không được dài quá  cổ tay và không được ngắn hơn nửa cẳng tay. Tay áo không được xắn lên.

2.2.2.5. Quần thi đấu phải đủ dài để che được ít nhất 2/3 cẳng chân và không được chùm mắt cá chân. Ống quần không được xắn lên.

2.2.2.6. Các VĐV phải để tóc gọn gàng, cắt ngắn để vướng khi thi đấu. Hachimaki (băng quấn đầu) không được phép sử dụng. Nếu như TTC nhận thấy VĐV nào tóc quá dài hay không sạch sẽ, TTC có quyền truất quyền thi đấu của VĐV đó. Trong thi đấu kumite cấm đeo trâm cài tóc và cặp tóc bằng kim loại. Trong thi đấu kata, được phép đeo cặp tóc, cấm sử dụng ruy băng và các vật trang trí khác.

2.2.2.7. Các VĐV phải cắt ngắn móng tay và không đeo đồ kim loại hay các vật khác mà có thể gây thương tích cho đối phương. Việc sử dụng bọc răng bằng kim loại phải được sự đồng ý của TTC và bác sĩ của BTC. VĐV phải chịu hoàn toàn ho bất kỳ chấn thương nào xảy ra đối với bản thân.

2.2.2.8. WKF công nhận găng tiêu chuẩn dùng cho thi đấu và bắt buộc một đấu thủ đeo găng và đẩu thủ kia đeo găng xanh.

2.2.2.9 Đeo bảo vệ răng là bắt buộc.

2.2.2.10. Miếng lót và ống lót mềm bảo vệ ống quyển được phép sử dụng. Các dụng cụ bảo vệ cổ chân, mu bàn chân cấm sử dụng.

2.2.2.11. Không sử dụng kính đeo mắt. Có thể đeo kính áp tròng nhưng VĐV phải tự chịu trách nhiệm về sự rủi ro cho bản thân.

2.2.2.12. Cấm sử dụng quần áo hay trang bị không được phép. VĐV nữ có thể sử dụng thêm trang bị bảo vệ cho phép như trang bị bảo vệ ngực.

2.2.2.13. Tất cả các trang bị bảo vệ phải được WKF công nhận.

2.2.2.14. Việc sử dụng băng gạc, miếng bịt hay các vật trợ giúp do chấn thương  phải được sự đồng ý cuả TTC dựa vào ý kiến bác sĩ của giải.

2.2.3 Đối với huấn luyện viên:

Huấn luyện viên (HLV) phải mặc quần áo thể thao và đeo thẻ HLV trong suốt thời giân diễn ra giải đấu.

Giải thích:

1. Các VĐV chỉ được đeo 1 đai, đai đỏ là AKA và đai xanh là AO. Đai chỉ trình độ của VĐV không được phép đeo trong khi thi đấu.

2. Bảo vệ răng phải vừa vặn. Không cho phép sử dụng bảo vệ hạ bộ dạng túi đựng mu nhựa plastic trượt bên trong, nếu VĐV bị phát hiện dùng dụng cụ này thì xem như có lỗi.

3. Có thể thấy việc dùng các vật như khăn quấn đầu hoặc lá bùi là vì do tôn giáo, nhưng nếu muốn mặc các trang phục không được phép đó đều phải báo cáo với HĐTT trước khi diễn ra giải đấu. HĐTT sẽ xem xét từng trường hợp để giải quyết một cách thoả đáng. Sẽ không xem xét những người mới nộp danh sách trong ngày mà muốn thi đấu.

4. Nếu VĐV vào thảm thi đấu mà ăn mặc không hợp lệ, VĐV này không bị truất quyền ngay, thay vào đó sẽ được cho một phút để sửa sang lại trang phục.

5. Nếu HĐTT đồng ý, các trọng tài có thể được phép cởi áo vét.

Điều 3: Tổ chức thi đấu kumite

3.1. Một giải thi đấu karate có thể bao gồm thi đấu Kumite và thi đấu Kata. Thi dấu Kumite có thể chia thành thi đấu đồng đội và thi đấu cá nhân. Thi đấu cá nhân có thể chia ra theo các hạng cân và theo hạng vô địch tuyệt đối. Các hạng cân được chia ra theo các trận đấu. Thuật ngữ "trận đấu" còn là chỉ thi đấu Kumite cá nhân giữa từng cặp đối kháng.

3.2. Trong thi đấu cá nhân không được phép thay VĐV khác.

3.3. VĐV tham gia nội dung cá nhân hay đồng đội mà không có mặt khi được gọi thì sẽ bị truất quyền thi đấu (KIKEN) ở nội dung đó.

3.4. Trong các trận thi đấu đồng đội, mỗi đội phải có số VĐV là số lẻ. Đồng đội nam gồm 7 VĐV với 5 người thi đấu chính trong 1 vòng đấu. Đồng đội nữ gồm 4 VĐV với 3 người thi đấu chính thức trong 1 vòng đấu.

3.5. Các VĐV đều là thành viên của một đội. Không cố định VĐV dự bị.

3.6. Trước mỗi trận đấu, đại diện mỗi đội phải nộp lên bàn thư ký một danh sách chính thức ghi rõ họ tên và thứ tự thi đấu của các thành viên trong đội. Các VĐV được lựa chọn từ đội 7 người, hay 4 người, và thứ tự thi đấu của họ có thể được thay đổi ở mỗi vòng đấu, miễn sao thứ tự thi đấu mới phải được thông báo trước, nhưng một khi đã được thông báo rồi thì không được thay đổi cho đến khi vòng đấu kết thúc.

3.7. Một đội sẽ bị truất quyền thi đấu nếu như bất kỳ thành viên nào hoặc HLV của đội thay đổi thành phần đội hoặc thứ tự thi đấu mà không được đăng ký bằng văn bản trước khi vòng đầu diễn ra.

Giải thích:

1. Trong vòng đấu loại Kumite sẽ loại ra 50% VĐV tính cả những VĐVđược ưu tiên. Điều này có nghĩa vòng đấu được xem như 1 giai đoạn đấu loại vòng đầu. Trong khuôn khổ "đấu vòng tròn", là vòng đấu cho phép tất cả các VĐV thi đấu 1 trận.

2. Việc sử dụng  tên gọi của VĐV có thể gây  khó khăn trong việc phát âm và nhận dạng.Do đó các số đeo của giải sẽ được phát và sử dụng.

3. Khi xếp hàng trước trận đấu, mỗi đội sẽ đưa ra những VĐV chính thức. Những đấu thủ dự bị và HLV sẽ ngồi ở khu vực dành riêng cho họ.

4. Để tham dự thi đấu, các đội nam phải có mặt ít nhất 3 VĐV và các đội nữ ít nhất có 2 VĐV tham gia. Đội nào có ít hơn số lượng VĐV theo quy định sẽ bị tước quyền thi đấu (Kiken). 

5. Bản đăng ký thứ tự thi đấu do HLV hoặc 1 VĐV trong đội được chỉ định nộp. Nếu HLV nộp thì phải có chức danh rõ ràng, nếu không có thể bị từ chối. Bản đăng ký phải bao gồm tên quốc gia hay câu lạc bộ, màu đai được phát cho đội trong trận đấu đó và thứ tự thi đấu của các thành viên trong đội. Phải bao gồm cả tên và số đeo của các VĐV cùng chữ ký do HLV hay người được chỉ định.

5. Nếu có sai sót trong khi lập bản đăng ký, một VĐV không đúng lượt lên thi đấu thì không cần biết kết quả trận đấu thế nào, trận đấu này sẽ bị coi là không hợp lệ và bị huỷ bỏ. Để tránh những sai sót như vậy, VĐV thắng của mỗi trận đấu phải đến bàn điều hành ký xác nhận chiến thắng trước khi rời thảm đấu.

Điều 4: Tổ trọng tài

4.1. Tổ trọng tài bao gồm 1 trọng tài chính (Shushin), 3 trọng tài phụ (Fukushin) và 1 trọng tài giám sát (Kansa).

4.2. Trọng tài chính và phụ của 1 trận đấu Kumite không được có quốc tịch trùng với quốc tịch của các VĐV đấu trong trận đấu đó.

4.3 Ngoài ra, để các trận đấu diễn ra 1 cách thuận lợi phải có thêm một số trọng tài thời gian (bấm giờ), người phát ngôn, người ghi điểm và giám sát ghi điểm đều được chỉ định.

Giải thích:

1. Khi bắt đầu trận đấu Kumite, TTC đứng ngoài mép của thảm đấu. Đứng bên trái TTC là  TTP số 1 và 2, bên phải là trọng tài giám sát (TTGS) và TTP số 3.

2. Sau khi nghi thức cúi chào nhau của các VĐV và tổ trọng tài, TTC lùi một bước, các TTP và GSTT  quay vào trong và cúi chào nhau sau đó tất cả về vị trí của mình.

3. Khi thay đổi toàn bộ tổ trọng tài, tổ trọng tài cũ về vị trí như ban đầu của trận đấu, cúi chào nhau, rồi cùng rời khỏi khu vực thi đấu.

4. Khi thay đổi  TTP, TTP mới bước  đến chỗ trọng tài cũ, cùng cúi chào và đổi vị trí.

Điều 5: Thời gian của trận đấu

5.1. Thời gian của trận đấu Kumite được quy định là 3 phút đối với kumite nam thanh niên (cả đồng đội và cá nhân) và 2 phút đối với trận đấu dành cho nữ, lứa tuổi trẻ và thiếu niên.

5.2. Việc thời gian của trận đấu bắt đầu khi TTC ra hiệu bắt đầu, và dừng lại khi TTC hô "YAME".

5.3. Trọng tài bấm giờ sẽ ra hiệu bằng tiếng cồng hay “hết giờ”. Tín hiệu “hết giờ” sẽ báo kết thúc trận đấu.

Điều 6: Ghi điểm

6.1. Điểm ghi được sẽ bao gồm như sau:

      a. SANBON:     3 điểm

      b. NIHON:        2 điểm

      c. IPPON:          1 điểm

6.2. Điểm được tính khi một kỹ thuật được thực hiện theo những tiêu chuẩn sau vào vùng ăn điểm:

      a. Đòn thế đẹp

      b. Tinh thần thể thao

      c. Mạnh (có lực)

      d. Ý thức phòng thủ (Zanshin)

      e. Đúng thời điểm

      f. Cự ly chuẩn

6.3. SANBONđược dành cho:

      a. Các đòn đá Jodan

      b. Quật hoặc quét ngã đối thủ nằm xuống sàn ngay lập tức bồi tiếp bằng một đòn kỹ thuật ăn điểm.

6.4. NIHON được dành cho:

     a. Các đòn đá Chudan

     b. Các đòn đấm vào lưng

     c. Các kỹ thuật liên hoàn bằng đòn tay, mỗi đòn đều ghi được điểm.

     d. Làm đối thủ mất thăng bằng và bồi tiếp một đòn ghi điểm.

6.5. IPPON được dành cho những kỹ thuật sau:

     a. Chudan hoặc Jodan Tsuki

     b. Uchi

6.6. Các đòn tấn công được giới hạn trong các vùng sau:

     a. Đầu

     b. Mặt

     c. Cổ

     d. Bụng

     e. Ngực

     f. Lưng

     g. Lườn

6.7. Một kỹ thuật ăn điểm được thực hiện vào đúng lúc có hiệu lệnh dừng trận đấu thì được coi là có giá trị. Một kỹ thuật cho dù có hiệu quả mà được thực hiện sau khi có lệnh tạm dừng hoặc chấm dứt trận đấu sẽ không được tính điểm và người thực hiện có thể còn bị phạt

6.8. Không một kỹ thuật nào cho dù có chuẩn về mặt kỹ thuật sẽ không được tính điểm nếu như cả 2 đấu thủ ở ngoài thảm đấu. Tuy nhiên, nếu như một trong hai VĐV ra đòn chính xác mà vẫn còn ở trong thảm đấu và trước khi TTC hô "Yame" thì đòn đó sẽ được tính điểm.

6.9. Những đòn tính điểm hiệu quả được thực hiện đồng thời bởi cả 2 đấu thủ, thì không được tính điểm

Giải thích:

Để được tính điểm, một kỹ thuật thực hiện phải nằm trong vùng được ăn điểm như mục 6.6 ở trên. Đòn đánh phải được thực hiện đúng vào vùng quy định và phải đáp ứng 6 tiêu chuẩn tính điểm như mục 6.2 ở trên.

Thuật ngữ

Tiêu chuẩn kỹ thuật

San bon

(3 điểm) được tính cho

1. Các đòn đá Jodan. Jodan là chỉ đòn đá vào mặt, đầu và cổ.

2. Kỹ thuật ghi điểm theo luật được tính sau khi quật ngã hoặc làm đối phương ngã xuống sàn.

 

Nihon

 (2 điểm) được tính cho

1. Các đòn đá Chudan. Chudan chỉ đòn đá vào bụng, ngực, lưng và lườn.

2. Các đòn đấm vào lưng đối phương, bao gồm cả sau đầu và cổ.

3. Các đòn kỹ thuật liên hoàn cả đấm và tấn công (Tsuki và Uchi) mà mỗi đòn đều ghi được điểm.

4. Kỹ thuật ghi điểm bằng đòn đánh được phép của VĐV tạo ra làm đối phương mất thăng bằng thì được tính điểm

 

Ippon

(1 điểm) được tính cho:

1. Đòn đấm (Tsuki) vào 1 trong 7 vùng được tính điểm ngoại trừ vùng phía sau đầu và cổ.

2. Đòn tấn công (Uchi) vào 1 trong 7 vùng được tính điểm

1. Vì lý do an toàn, các đòn quật mà đối thủ bị quật ngã không được giữ lại (không khống chế) hay đòn quật nguy hiểm, hay trọng tâm người bị quật cao hơn hông người quật đều bị cấm hoặc bị phạt. Ngoại trừ kỹ thuật quét chân trong Karate hợp lệ  không đòi hỏi đối thủ phải kiềm chế trong khi thực hiện như Deashi- barai, Ko uchi gari, kani waza... Sau mỗi đòn quật được thực hiện, TTC sẽ cho phép VĐV được 2 hoặc 3 giây để thực hiện tiếp một kỹ thuật ăn điểm.

2. Nếu một VĐV bị trượt, ngã hay mất thăng bằng khi thực hiện các đòn đánh mà đấu thủ thực hiện ghi điểm thì sẽ được tính như VĐV ở tư thế thẳng đứng.

3. Một kỹ thuật được coi là "Đòn đẹp" nghĩa là thể hiện hiệu quả đặc biệt được chấp nhận theo quan niệm truyền thống của Karate.

4. Phong cách thể thao là một yếu tố của đòn thế đẹp và chỉ thái độ không ác ý với sự tập trung cao độ khi ra đòn ăn điểm.

5. "Đòn mạnh" nghĩa là đòn có lực và có tốc độ thể hiện ý chí muốn chiến thắng.

6. Ý thức phòng thủ (Zanshin) là một tiêu chuẩn thường bị bỏ qua khi điểm được ghi. Đó là lúc mà VĐV vẫn duy trì được trạng thái tập trung, quan sát và luôn ý thức sẵn sàng trước đòn phản công của đối thủ. VĐV không được quay mặt đi trong khi ra đòn và ngay cả sau khi ra đòn vẫn phải hướng mặt về phía đối thủ.

7. "Đúng thời điểm" nghĩa là một kỹ thuật tung ra đúng lúc để đạt hiệu quả cao nhất.

8. "Cự ly chuẩn" cũng có nghĩa tương tự như kỹ thuật tung ra ở khoảng cách chính xác để đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy, nếu tung một đòn kỹ thuật vào đối thủ đang có di chuyển nhanh thì hiệu quả của đòn đó sẽ giảm xuống.

9. Khoảng cách cũng liên quan đến mục tiêu của đòn đánh hoàn chỉnh hay đòn chạm hoặc gần chạm. Một đòn đấm hoặc đá vào vị trí nào đó ở mặt còn cách 2 - 5cm thì được gọi là khoảng cách chuẩn. Tuy nhiên, các đòn đấm Jodan tới mục tiêu ở khoảng cách hợp lý mà làm đối thủ không thể đỡ hoặc tránh được thì được coi là được điểm,  miễn là có kỹ thuậ và đáp ứng được các tiêu chuẩn khác.

10. Một đòn đánh không có giá trị thì  vẫn là không có giá trị cho dù nó được thực hiện ở đâu và như thế nào. Một đòn kỹ thuật được thực hiện không đúng tư thế hay thiếu lực sẽ khôngi được tính  điểm.

11. Những đòn đánh dưới đai có thể tính điểm nếu chúng ở trên phần xương mu. Cổ là vùng ăn điểm và yết hầu cũng vậy. Tuy nhiên, không được phép chạm vào yết hầu, điểm có thể được tính cho đòn có khống chế và không chạm.

12. Một đòn đánh vào vùng xương bả vai có thể được ăn điểm. Vùng không được ăn điểm của  vai chính là chỗ nối của xương cánh tay, xương bả vai và xương đòn.

13. Tiếng chuông báo hết giờ sẽ chấm dứt mọi khả năng ghi điểm trong trận đấu đó, thậm chí TTC do sơ xuất không dừng ngay trận đấu. Nếu tiếng chuông báo hết giờ  không reo thì việc phạt sẽ không được áp dụng. Tổ trọng tài có quyền tiến hành áp dụng phạt cho tới khi VĐV rời thảm đấu sau khi trận đấu kết thúc, còn sau thời gian đó thì phải do Hội đồng trọng tài quyết định.

14. Hiếm có trường hợp Aiuchi thực sự... Hai đòn đều có thể cùng lúc trúng mục tiêu nhưng hiểm khi đích thực cùng được ghi điểm. Vì vậy trong những trường hợp chỉ có một đòn là thực sự có giá trị ghi điểm thì TTC không được công bố là Aiuchi. Đó không phải là Aiuchi.

Điều 7: Tiêu chuẩn để quyết định

Kết quả của trận đấu được quyết định khi VĐV này dẫn cách biệt 8 điểm; hoặc hết giờ, khi VĐV có số điểm cao hơn; hay là theo quyết định (Hantei); hoặc VĐV do phải nhận Hansoku, Shikkaku, hay Kiken.

7.1. Khi trận đấu kết thúc với số điểm bằng nhau hoặc không có điểm, TTC sẽ thông báo tỉ số hoà (Hikiwake) và bắt đầu một ENCHO-SEN nếu có thể.

7.2. Trong các trận đấu cá nhân, nếu kết quả là hòa thì trận đấu sẽ có hiệp phụ (ENCHO-SEN) nhưng không quá 1 phút. ENCHO-SEN là một hiệp phụ, và mọi hình phạt cũng như cảnh cáo vẫn được áp dụng. VĐV nào giành được điểm trước được coi là người chiến thắng. Trong trường hợp không có VĐV nào ghi được điểm trong suốt hiệp ENCHO-SEN thì TTC và 3 TTP sẽ ra biểu quyết cuối cùng. Quyết định này sẽ chỉ ra một VĐV thắng cuộc và VĐV còn lại buộc phải tuân theo, và được thực hiện dựa trên cơ sở sau:

a)     Thái độ, tinh thần thi đấu và thể lực của VĐV.

b)     Ưu thế về chiến thuật và kỹ thuật.

c)     VĐV nào làm chủ trận đấu.

7.3. Trong thi đấu đồng đội sẽ không có hiệp phụ (Encho-sen), kể cả ở các trận đấu hòa ngoại trừ trường hợp như trong điều 7.5 dưới đây.

7.4. Đội thắng cuộc là đội có nhiều trận thắng nhất. Có thể có hai đội có cùng số trận thắng bằng nhau thì đội có nhiều điểm hơn tính cả trận trận thắng và trận thua là đội chiến thắng.

7.5. Nếu cả hai đội có số trận thắng và số điểm bằng nhau thì một trận đấu quyết định sẽ được tiến hành. Trường hợp vẫn tiếp tục hòa, sẽ đấu thêm một hiệp phụ (ENCHO-SEN) không quá 1 phút. Trường hợp không có điểm ghi được thì sẽ được quyết định bằng biểu quyết của TTC và 3 TTP

7.6. Trong các trận thi đấu đồng đội, khi một đội có những trận thắng xuất sắc hay có điểm thắng xuất sắc thì đội đó sẽ được công nhận là đội chiến thắng và trận đấu sẽ được tuyên bố kết thúc và sẽ không có thêm trận đấu nào nữa.

Giải thích:

1. Khi quyết định kết quả trận đấu bằng việc biểu quyết (Hantei) vào cuối trận ENCHO-SEN không phân thắng bại, TTC sẽ rời khu vực thảm đấu hô "Hantei", rồi thổi hai hồi còi, các TTP sẽ bày tỏ quan điểm của mình bằng cờ hiệu và cùng lúc đó  TTC đưa ra ý kiến bằng cách giưo tay  về phía VĐV thi đấu tốt hơn. TTC thổi một tiếng còi ngắn, trở  về vị trí ban đầu rồi công bố người thắng cuộc.

2. Ở những trường hợp kết thúc hòa, TTC sẽ giải quyết bằng biểu quyết. Khi trở về vị trí ban đầu, TTC sẽ đặt một tay ngang ngực và hướng tay về phía người mình lựa chọn, sau đó sẽ công bố người thắng cuộc chính thức.

Điều 8: Các hành vi bị cấm

Có 2 loại hành vi bị cấm: loại 1 và loại 2.

- Loại 1: (C1)

1. Các đòn đánh quá mạnh vào vùng ăn điểm và đòn đánh vào yết hầu.

2. Các đòn đánh vào tay hoặc chân, hạ bộ, khớp hoặc mu bàn chân.

3. Các đòn tấn công vào mặt bằng kỹ thuật mở bàn tay.

4. Các đòn quăng quật nguy hiểm hoặc bị cấm mà gây nên chấn thương.

- Loại 2: (C2)

1. Giả vờ hoặc cường điệu hóa chấn thương.

2. Ra ngoài thảm đấu nhiều lần (JOGAI).

3. Tự gây ra nguy hiểm cho mình trong khi đuổi theo ra đòn để chính mình bị chấn thương, không để ý để bảo vệ hữu hiệu (MUBOBI).

4. Pha đánh nhằm ngăn cản cơ hội ghi điểm của đối phương.

5. Các đòn ôm ghì, vật, đẩy hoặc tóm mà không có đòn đánh tiếp theo sau đó.

6. Các kỹ thuật, xét về bản chất không thể khống chế được để đảm bảo sự an toàn cho đối phương, những đòn tấn công gây nguy hiểm và không khống chế được.

7. Các đòn tấn công bằng đầu , đầu gối, hoặc cùi chỏ.

8. Nói hoặc chọc tức đối phương, không chịu chào đáp lễ trọng tài, những hành vi bất lịch sự, khiếm nhã đối với các quan chức trọng tài hoặc những vi phạm thuộc về võ phép.

Giải thích:

1. Thi đấu karate là một hình thức thi đấu thể thao, do đó có một vài kỹ thuật nguy hiểm phải được loại bỏ và tất cả cá đòn đánh nhất thiết phải khống chế. Các VĐV được tập luyện có thể chịu đựng được các đòn đánh khá mạnh vào những vùng có cơ bụng, còn thực tế những  vùng như đầu, mặt, cổ, háng, khớp là những vùng rất dễ bị chấn thương. Vì vậy, bất cứ kỹ thuật nào thực hiện mà gây chấn thương cho đối phương đều bị phạt trừ khi lỗi do người bị chấn thương gây ra.

Các VĐV phải thể hiện được các đòn đánh có khống chế và đẹp. Nếu không thể, nghĩa là những kỹ thuật sai thì họ sẽ bị nhắc nhở hoặc bị phạt.

- Đánh vào mặt - đối với lứa tuổi trưởng thành và tuổi thanh niên.

2. Đối với các VĐV ở lứa tuổi trưởng thành và tuổi thanh niên, đòn đánh không gây chấn thương, đánh nhẹ, đánh “chạm” có khống chế vào mặt, đầu và cổ thì được cho phép (nhưng không phải vào yết hầu). Nếu đòn đánh chạm mà TTC cho là quá mạnh, nhưng không đến mức làm mất khả năng chiến đấu của VĐV thì có thể bị  nhắc nhở (CHUKOKU). Lần đánh thứ 2 trong cùng trường hợp như trên thì sẽ b


URL của bản tin này::https://suzuchokaratedo.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=105

© SUZUCHO KARATE-DO RYU contact: nguyenminh_huesp@yahoo.com